Tiếp nối thành công của hội thảo xã hội dân sự (XHDS) năm 2016, Ban tổ chức bao gồm đại diện của Nhóm Làm Việc Vì Sự Tham Gia Của Người Dân (PPWG), Không Gian Nhân Quyền (HRS), Liên Minh Hành Động Vì Công Bằng Và Sức Khỏe (PAHE), Nhóm Công Tác Vì Người Dân Tộc Thiểu Số (EMWG), Nhóm Quản Trị Và Cải Cách Hành Chính Công (GPAR), và Mạng Giới Và Phát Triển Cộng Đồng (GENCOMNET) đã tổ chức hội thảo xã hội dân sự thường niên lần thứ hai với tiêu đề “Triết lý phát triển: bài học từ quá khứ và định hướng cho tương lai Việt Nam”.

Hội thảo thường niên lần 2, năm 2017
Hội thảo thường niên lần 2, năm 2017

Hội thảo đã diễn ra trong ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2017, đã thu hút được sự tham dự của 180 đại biểu với các thành phần đa dạng gồm các chuyên gia kinh tế, các cán bộ giảng dạy của các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, các đại diện của các tổ chức và mạng lưới XHDS, các chuyên gia độc lập, các nhà hoạt động, các cá nhân và sinh viên các trường đại học từ các địa phương và trung ương. Toàn bộ các bài trình bày và thảo luận tại hội thảo đã được phát sóng trực tiếp với tống số hơn 55.000 lượt người theo dõi với rất nhiều ý kiến tham gia thảo luận trực tuyến.

Thành Quả Và Những Vấn Đề Cần Xem Xét

Đa số các ý kiến cho rằng trong hai lăm - ba mươi năm qua VN đã có những thành quả phát triển vì đã chọn đi theo con đường kinh tế thị trường. Mô hình tăng trưởng kinh tế mới đã dẫn đến nhiều kết quả tích cực. Trong mấy thập kỷ đầu tiên của quá trình đổi mới, kinh tế phát triển nhanh, hàng triệu người được hưởng lợi từ quá trình này, trong đó có nhiều người nghèo, các nhu cầu cơ bản đã được đáp ứng đáng kể và mức độ đáp ứng ngày càng cao hơn.

Hội thảo cho rằng đây là nỗ lực chung rất lớn, tuy nhiên đây chưa phải là một sự đột phá trong triết lý phát triển của Việt Nam. Nhiều hơn đó là một sự học hỏi, thừa nhận và áp dụng thực tế của loài người trong ba trăm năm gần đây. Tăng trưởng của VN chủ yếu dựa trên năng suất thấp, tiêu tốn rất nhiều tài nguyên, nên có thể nói tăng trưởng của thời kỳ này về cơ bản là tăng trưởng xám, chứ chưa phải tăng trưởng xanh. Tăng trưởng kinh tế bây giờ không phải là bình đẳng, mà tăng một đồng GDP thì bất bình đẳng tăng nhiều hơn và các chi phí môi trường tăng hơn nữa. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, mặc dù có nhiều thành quả phát triển so với trước đổi mới, VN đang phải trả giá quá cao, bao gồm nhiều vấn đề về xã hội và môi trường nghiêm trọng, nhiều chương trình đổi mới và phát triển chưa hoàn thành, bất bình đẳng gia tăng, đặc biệt về tiếp cận các cơ hội phát triển và suy giảm niềm tin của người dân.

Nguyên nhân của tình trạng này được tóm tắt trong những điểm chính sau đây: (i) Không khai thác được nguồn lực xã hội. Tư duy dựa vào Nhà nước vẫn thống trị nên mặc dù có nguồn lực khổng lồ trong xã hội, Nhà nước vẫn vấp phải vấn đề thiếu nguồn lực do không thể khai thác nguồn lực đó. Ngoài ra, thị trường chưa được phát triển đầy đủ và không thúc đẩy được sự tham gia của người dân. Nguồn tri thức, kỹ năng, công nghệ, năng lực sáng tạo chưa được giải phóng và được huy động hiệu quả. Bên cạnh đó, theo phân tích của TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Việt Nam thiếu một nền tư pháp độc lập. Các cải cách tư pháp và vai trò độc lập của hệ thống tư pháp được xây dựng một cách chậm chạp.

Triết Lý Phát Triển Từ 1986 Đến Nay  

Triết lý dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, đổi mới kinh tế trước, đổi mới chính trị sau: Phát triển kinh tế trong thời gian qua được quan tâm nhất là do VN xuất phát từ đói nghèo đi lên. Lựa chọn của VN là lựa chọn đổi mới kinh tế trước, đổi mới chính trị sau, và thành quả phát triển của Việt Nam cho thấy lựa chọn này cho giai đoạn đầu là phù hợp. Tư duy này cho rằng đổi mới kinh tế trước sẽ kéo theo đổi mới chính trị. Cũng vì triết lý này nên đã dẫn đến quan điểm rằng phát triển có nghĩa là phát triển kinh tế, tập trung nhiều vào tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng bằng mọi giá, và để phát triển kinh tế cho một nước nghèo như VN thì phải chấp nhận đánh đổi những hệ quả về xã hội và chất lượng môi trường (cho dù trên thực tế, quan điểm phát triển bền vững đã được phổ biến ở VN từ đầu những năm 1990, không lâu sau khi Đổi mới bắt đầu).

Triết lý phát triển dựa trên vai trò của Nhà nước: Triết lý này cho rằng phát triển phải dựa trên vai trò quan trọng hàng đầu của Nhà nước, tức là Nhà nước làm tất cả, Nhà nước điều hành tất cả và tập trung mọi quyền lực trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội. Trong kinh tế, vai trò của Nhà nước thể hiện ở những điểm như doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế; và thực tế khu vực kinh tế tư nhân mới chiếm 10% đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Mặc dù gần đây có những sự thay đổi, chuyển biến về phân quyền, nhưng Nhà nước vẫn đóng vai trò chính trong phát triển. Trong rất nhiều văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước đều nhấn mạnh rằng kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Chính quan điểm Nhà nước đóng vai trò chủ đạo đã dẫn tới vai trò của XHDS là bị xem nhẹ, chưa nói là bị nhìn nhận một cách rất là nghi ngại.

Việt Nam thiếu sự nhận thức đúng đắn về triết lý phát triển: Để xác định được triết lý phát triển phải trả lời được hai câu hỏi cơ bản: Phát triển là gì, và phát triển để làm gì? Nếu trả lời rằng, phát triển để tăng trưởng, để chúng ta giàu có hơn, thịnh vượng hơn thì có thể Nhà nước sẽ đưa ra một loạt chính sách để đạt được mục đích đó; còn nếu hiểu phát triển để người dân cảm thấy an toàn hơn, an ninh con người được đảm bảo, bảo vệ được môi trường xanh hơn, con người cảm thấy hạnh phúc hơn, thì Nhà nước sẽ đưa ra các chính sách khác. Như vậy, đây là những câu hỏi cốt lõi của triết lý phát triển. Nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc VN phải dừng lại, xem lại phát triển đang được hiểu là như thế nào. Có rất nhiều sai lệch trong các lĩnh vực, nhiều sự đánh đổi không đáng có. Những gì có vẻ như không hợp lòng dân thì luôn được biện minh là “vì phát triển”. Như vậy thì không trả lời được “phát triển là gì” thì không làm rõ được tại sao người dân lại phải vì “phát triển”.

 

(Nguồn internet)
(Nguồn internet)

Triết lý đánh đổi, hi sinh thiên nhiên và môi trường để phát triển: Trong nhận thức của nhiều người suốt một thời gian dài, thiên nhiên là thứ hoang hóa phải chinh phục, cải tạo để phục vụ lợi ích con người. Vì quan niệm về thiên nhiên như vậy mà rừng và các hệ sinh thái bị phá hủy để làm đường, xây dựng công trình thủy điện để phát triển kinh tế, tăng GDP. Chính điều này đang tạo ra những khủng hoảng về môi trường được chứng kiến ngày hôm nay. Môi trường luôn bị gắn liền với những diễn ngôn như là hy sinh, đánh đổi… Công lý môi trường chưa được chú trọng. Nếu không coi trọng môi trường một cách đúng đắn và đưa ra hành động đúng đắn để giải quyết thì tất cả mọi người đều sẽ là nạn nhân.

Lo lắng về chủ quyền, nhưng lại lệ thuộc vào mô hình nước ngoài: Theo TS. Nguyễn Đức Thành, nhiều chính sách hiện nay được đặt ra mà ẩn sâu trong đó là tư tưởng để giữ được độc lập thì phải có Đảng và Nhà nước này lãnh đạo. Tư duy này biện minh cho sự ôm đồm của Nhà nước và vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì sao Nhà nước ôm đồm, cũng như vấn đề về quyền lực nói chung, điều này xuất phát từ lý luận cho rằng nếu không ôm đồm như thế thì đất nước sẽ mất về tay người nước ngoài hay mất đi tính độc lập. Nhưng cách thức một nhóm làm tất cả, còn những người khác chỉ làm theo, là một cách thức không hiệu quả, không huy động được nguồn lực xã hội. Ngoài ra, nỗi lo mất độc lập này dẫn đến trạng thái xã hội phát triển theo hướng nhân tạo hơn là tự nhiên. Một xã hội được duy trì dựa trên những nỗi lo như sẽ mất độc lập, hay chế độ sẽ tan rã, thì sẽ phát triển theo khuynh hướng có tính nhân tạo. Nhưng chính từ đây sẽ dẫn đến nhu cầu phát triển xã hội phải theo cách tự nhiên hơn, hay nói khác đi, đó là nhu cầu phải cải cách xã hội nhân tạo, làm cho nó trở nên là rõ ràng hơn, gần với tự nhiên hơn, gần với thực tế hơn và gần với con người hơn, mang tính người hơn. Trong khi đó lại tồn tại một nghịch lý là một mặt, VN muốn giữ độc lập, tự chủ, nhưng mặt khác VN vẫn tiếp tục phải đi theo con đường là dựa vào nước ngoài để tạo ra đồng thuận ở trong nước vì không tự đồng thuận được.

Lúng túng và mâu thuẫn trong diễn ngôn về phát triển: Nhiều đại biểu bày tỏ diễn ngôn về phát triển của VN hết sức lúng túng, chủ quan và mâu thuẫn. Tư duy phổ biến là phát triển tuần tự, theo một mô hình, không chấp nhận sự đa dạng. Khi một mô hình được đề ra thì tất cả những thứ khác nó bị cho là đối lập, bị coi là xấu, lạc hậu, cổ hủ, kém phát triển, không văn minh… Tư duy nhị nguyên này đã âm thầm phá hủy sự đa dạng trong đời sống, làm nảy sinh những nghịch lý như người dân tộc phải phát triển giống người Kinh, miền núi tiến kịp miền xuôi… và phá hủy bản sắc và các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. “Chuẩn” đang rơi vào tình trạng phải đi theo một kiểu, ví dụ phải hy sinh cá nhân vì lợi ích của tập thể, công nghiệp hóa hiện đại hóa, hay chuẩn là kinh tế hàng hóa… Khi “chuẩn” được phổ biến và khác “chuẩn” bị phủ nhận, đó là lúc bất kỳ sự đa dạng nào trong phát triển cũng bị coi là sai và không được thừa nhận. Người dân tộc thiểu số vì thế bị coi là cổ hủ, lạc hậu, hay họ phải chấp nhận phát triển giống người Kinh, phải chấp nhận kinh tế hàng hóa…

Một Số Gợi Ý Cho Tương Lai

Thay đổi tư duy về phát triển: Trong giai đoạn tới, triết lý phát triển cần được điều chỉnh cho phù hợp, lấy con người làm trung tâm, để tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường và bảo vệ các giá trị văn hóa - xã hội, đảm bảo công bằng xã hội… Phải thay đổi tư duy phát triển là phát triển kinh tế, hay tăng GDP. Ai cần thay đổi tư duy nhất trong bối cảnh hiện nay? Người lãnh đạo cần thay đổi, tuy nhiên lãnh đạo thay đổi cũng không đủ, mà tất cả từng người dân một cũng phải thay đổi.

Cần có các chỉ số đo được chất lượng phát triển, chứ không phải chỉ GDP: Phát triển phải lấy con người làm trung tâm, có gương mặt con người. Phát triển cần đi đôi với bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, coi dòng sông, cánh rừng, con vật có quyền tồn tại của nó, nghĩa là trong phát triển cần nhìn thấy khuôn mặt của những con người, và cả của những con voọc, tê giác, của những cái cây, chứ không phải chỉ có con số.

Cần khoan dung: Cần khoan dung để đón nhận nhiều những ý kiến khác nhau mới thực sự có được đổi mới sáng tạo. Bản chất của khoan dung là thỏa hiệp về tư tưởng bởi mỗi người không thể chắc chắn là chỉ có mình nắm giữ chân lý. Để thực hành những giá trị tự do, bình đẳng, dân chủ, nếu như thực sự muốn sự phát triển hài hòa cũng như là thúc đẩy những giá trị đó ở trong những không gian dân sự.

Quan hệ giữa Nhà nước và XHDS: Các đại biểu tại hội thảo hoan nghênh quan điểm cho rằng quyền lực không phải là một trò chơi tổng bằng không (zero sum). Không phải là XHDS mạnh lên thì Nhà nước sẽ mất quyền. Cần hiểu là XHDS hỗ trợ Nhà nước trong những lĩnh vực mà Nhà nước không với tay đến được, như vậy XHDS mạnh lên thì Nhà nước sẽ mạnh lên. Quan điểm hay triết lý này sẽ dẫn đến một cách ứng xử đúng đắn giữa Nhà nước và XHDS. Nhưng để quá trình này diễn ra, một nhà lãnh đạo sáng suốt phải biết mở những cái van để cho những lực lượng mới đi vào và sau đó là thỏa hiệp, chứ không phải là phủ nhận hay đối đầu.

Củng cố kiềng ba chân “Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và XHDS”: Về mặt thể chế nói chung cần xác lập ba trụ cột chính trong phát triển, đó là Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và XHDS. “Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa” đã có, nhưng mục tiêu là xây dựng Nhà nước pháp quyền. “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cũng chủ yếu là theo kinh tế thị trường. Còn cái quan trọng thứ ba - đó là cần phải chấp nhận, nhận diện và ủng hộ sự phát triển của XHDS.

Học bài học thất bại của các quốc gia: Phát triển là tốt, nhưng VN cần phải học các bài học thất bại của các quốc gia. Những vấn đề xảy ra trong phát triển đều đã từng diễn ra ở đâu đó trên thế giới. Ví dụ như về vấn đề chia chác nguồn lợi, về đất đai, các vấn đề ngân sách, hay là công tư hữu hóa như thế nào… đều đã có những bài học rất lớn, và thực tế là nhiều quốc gia đã phải trả giá rất đắt cho những quyết định của mình. VN cần phải rút ra kinh nghiệm từ những bài học này. Nguy cơ lớn nhất hiện nay là VN cứ tiếp tục đi theo những mô hình phát triển đã chết rồi (còn gọi là triết lý phát triển ma cà rồng, nghĩa là nó vẫn đang đi, nhưng thực ra không sống nữa).

Dân chủ hóa: Dân chủ hóa là phương tiện của tự do. Điều quan trọng đầu tiên là sự khoan dung về tư tưởng và sự khoan dung trong việc để cho những nhóm khác nhau cùng tham gia bàn về vận mệnh của dân tộc và đưa ra những ý kiến, những quan điểm và trao đổi trong hòa bình, tức là dân chủ hóa. Mỗi đất nước có một đặc thù riêng, thế nhưng nguyên lý dân chủ của loài người, mang tính nhân loại đó VN phải tôn trọng. Tôn trọng nó tức là tôn trọng về nhân quyền. Tự do là điều đáng có của con người, còn phương tiện để đi đến tự do là dân chủ, đó là một phương tiện mà loài người đã chứng minh. Phương tiện “dân chủ” đó có những đặc thù nhất định khác nhau ở các nước khác nhau. Ví dụ dân chủ Thái Lan khác dân chủ ở Nhật Bản hay dân chủ ở Mỹ.

Mở rộng tự do tư tưởng: Kinh tế đã phát triển đến mức nào đó thì chính trị phải đi theo, bởi vì nếu không được củng cố bởi những cải cách chính trị thì thực chất là những đổi mới về kinh tế và những thành tựu về kinh tế khó lòng bền vững được. Đổi mới về chính trị của VN đi chậm hơn nhưng có thể phát triển được. VN đã thừa nhận sở hữu tư nhân, và kinh tế tư nhân, nhưng kinh tế tư nhân phải có một nền tảng rất vững chắc là sở hữu tư nhân, vì chỉ có sở hữu tư nhân thì mới thực hiện quá trình trao đổi, quá trình sản xuất một cách vững vàng. Tương tự trong lĩnh vực tự do về kinh doanh, quá trình này đòi hỏi phải có sở hữu trí tuệ, và sở hữu các ý tưởng và bộc lộ được quan điểm của mình. Do đó phải có tự do về tư tưởng, tự do về ngôn luận để bày tỏ, bộc lộ các ý tưởng và đóng góp trí tuệ.

Cân nhắc giữa tiếp cận theo nhu cầu hay tiếp cận dựa trên quyền: Tiếp cận dựa trên nhu cầu là cách tiếp cận phù hợp cho VN trong giai đoạn phát triển trước, khi mà đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và giải quyết đói nghèo, nâng cao mức sống là nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân, các nhu cầu khác ngày càng gia tăng liên quan tới nhu cầu tự do ngôn luận, công lý môi trường, được tham gia vào quá trình phát triển… tất cả đang đòi hỏi phải có cách tiếp cận khác là tiếp cận dựa trên quyền. VN cần xây dựng các chính sách đáp ứng được các quyền con người phổ quát. Đáp ứng quyền con người vừa là phương tiện vừa là mục tiêu phát triển.

Phát triển thuận theo tự nhiên: Cần coi các thực thể tự nhiên như dòng sông, hồ, con vật… là những thực thể có linh hồn và có quyền được sống. Thuận theo tự nhiên cần được coi là một cách thức phát triển vì con người là một phần không tách rời của hệ sinh thái, một phần của thiên nhiên. Như vậy, bảo vệ các hệ sinh thái, bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cơ thể của mình. Triết lý này cần nằm trong nền tảng phát triển các chính sách.

(Nguồn internet)
(Nguồn internet)

Tạo điều kiện cho sự tham gia của người dân: Người dân cần được tham gia vào quá trình phát triển, cùng làm cùng đóng góp chi phí thì phát triển sẽ bền vững hơn. Điều này đòi hỏi những thay đổi trong nguyên tắc quản trị quốc gia, dịch chuyển từ hướng điều hành “từ trên xuống” sang hấp thụ quan điểm từ dưới lên, quan điểm rõ ràng về vai trò không thể thiếu của khu vực XHDS. Khi thiếu sự công bằng, không có đối thoại thì rất dễ dẫn đến tranh chấp và việc phản ứng một cách tiêu cực là điều có thể nhìn thấy trước được. Đảm bảo được sự công bằng là cách tốt nhất để tránh được bạo lực hay đối đầu, giúp các bên được tham gia thảo luận và có hành động chung để giải quyết được vấn đề.

Đề cao công lý và công bằng: Cần nghĩ đến một vấn đề lớn hơn rất nhiều, đó là vấn đề công lý trong phát triển. Như thế, cần phải có diễn ngôn mới về triết lý phát triển, đó có thể là phát triển trọng công lý, tôn trọng công lý. Công lý đó là mục đích, nhưng cũng là phương tiện để đạt được các mục tiêu phát triển. Để đạt được điều đó thì liên quan rất nhiều đến hệ thống tư pháp. Chẳng hạn, làm sao đảm bảo hệ thống tư pháp là độc lập, bảo vệ được quyền của từng cá nhân riêng lẻ, làm sao để cộng đồng, hay người dân tự bảo vệ được quyền của mình.

Sử dụng sức mạnh tập thể để tạo thay đổi xã hội: XHDS là nền tảng tạo ra sức mạnh tập thể và là cơ sở để xây dựng các nhóm/cộng đồng. Khi có sức mạnh tập thể thì một cộng đồng có thể lên tiếng, có thể yêu cầu thay đổi quy định về trật tự xã hội để đảm bảo quyền của họ không bị vi phạm… Và khi tập thể đó đủ lớn, họ có thể tạo ra những phong trào xã hội để tạo ra những thay đổi về xã hội cũng như chính sách mà họ mong muốn.

Ứng xử đúng với các giá trị văn hóa: Cần xây dựng năng lực cho cộng đồng trong bảo tồn các giá trị văn hóa. Phải có cách ứng xử riêng, chuẩn mực riêng, hệ giá trị phù hợp với văn hóa dân tộc thiểu số. Không lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà phải phát triển bền vững trên nền tảng văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc, xây dựng đời sống tinh thần trên cơ sở các giá trị văn hóa do tổ tiên để lại.

Khôi phục tinh thần ở cấp độ cá nhân: Xã hội được tạo nên bởi các cá nhân. Tự do có ba dạng là tự do quốc gia, tự do cá nhân và tự do dân sự. Để có được tự do cá nhân, con người cần có được tự do nội tại, một đời sống nội tâm bình an, và vì thế cần phải có các giá trị như sự kết nối để chống lại với sự đứt gãy; và một khía cạnh cuối cùng nữa cần nói đến là phải có niềm tin. Không phải chúng ta không có niềm tin mà là chúng ta đang được ru ngủ trong một niềm tin sai lạc, niềm tin về một sự an toàn và ổn định. Bản chất của đời sống là không xác định được, bản chất của đời sống là bất an, vậy nên cách an toàn nhất là sống với sự bất an đó và coi sự bất an đó là sự tồn tại khách quan của cuộc sống.

Hội thảo về xã hội dân dự thường niên lần thứ hai đã đạt được mục tiêu đề ra. Hội thảo có nội dung thảo luận rất phong phú, rất nhiều ý kiến đóng góp có giá trị và có trọng tâm. Hội thảo đã tập trung phân tích các nhược điểm của tiến trình phát triển của giai đoạn Đổi mới và các hệ lụy. Các đại biểu đã cùng xem xét và chỉ ra những điểm không còn phù hợp trong triết lý phát triển của giai đoạn đó, đồng thời thảo luận sâu sắc về gợi ý các triết lý phát triển cho giai đoạn sau Đổi mới và cũng như chia sẻ một số giải pháp cụ thể. Đặc biệt, hội thảo cũng đã thảo luận và xác định được vai trò của XHDS trong giai đoạn phát triển mới.

Báo cáo đầy đủ và tài liệu hội thảo (tiếng Việt): http://ppwgvietnam.info/Content/Home/Documents/bao-cao-hoi-thao-xhds-lan-2.pdf;

Báo cáo đầy đủ và tài liệu hội thảo (tiếng Anh): http://ppwgvietnam.info/Content/Home/Documents/second-annual-civil-society-conference-report.pdf